Định giá trái phiếu là công việc của nhà định giá nhằm tìm ra được giá trị lý thuyết của trái phiếu một cách chính xác. Nhưng ngay cả bạn là nhà đầu tư thì bạn cũng cần phải biết về các phương pháp cũng như giá trị của trái phiếu mà bạn đang hoặc sắp đầu tư. Giá trị của trái phiếu được xác định bằng cách xác định hiện giá của toàn bộ thu nhập nhận được trong thời hạn hiệu lực của trái phiếu.

định giá trái phiếu như thế nào

Định giá trái phiếu để đầu tư một cách chủ động, xác định những khoản lời khả thi

Để định giá chứng khoán, hay định giá trái phiếu nói riêng, người ta sử dụng mô hình chiết khấu dòng tiền (The Discounted Cashflow – DCF). Để từ bước định giá tới bước quyết định giao dịch, bạn có thể thực hiện theo quy trình như sau: ước lượng dòng tiền sinh ra từ tài sản; ước lượng tỷ suất lợi nhuận cần đạt; lựa chọn mô hình định giá (DCF) thích hợp; so sánh hai giá trị: lý thuyết và thị trường; ra quyết định.

Tìm hiểu mô hình định giá trái phiếu DCF – mẫu loại được sử dụng để định giá phổ biến:

định giá trái phiếu DCF là gì

Định giá trái phiếu luôn gắn liền với mô hình chiết khấu dòng tiền (The Discounted Cashflow – DCF). Bản thân DCF là mô hình xác định giá trị chứng khoán bằng cách chiết khấu những khoản thu nhập kỳ vọng trong tương lai của chúng, mô hình này xem xét cả hai mặt thời gian và rủi ro. 

Trái phiếu được định giá dựa vào ứng dụng đơn giản nhất của mô hình DCF là sử dụng để đánh giá giá trị của các công cụ nợ không trả lãi. Các trái chủ của các loại công cụ nợ này được trả tiền một lần, theo giá trị ghi trên chứng từ – thường gọi là mệnh giá (par or face value). Trong đó, các công cụ nợ bao gồm: Trái phiếu kho bạc, các loại giấy nợ ngắn hạn (Commercial paper) và chứng chỉ tiền gửi…, có thời hạn ngắn hơn một năm và thường được sử dụng làm hàng hoá giao dịch trên thị trường tiền tệ. Phân biệt rõ, mặc dù thuật ngữ “trái phiếu” được dùng để đề cập đến các nghĩa vụ nợ dài hạn, một mặt nào đó các công cụ nợ – còn được gọi là các chứng từ chiết khấu – có hầu như đầy đủ những đặc tính của trái phiếu ngoại trừ thời hạn của chúng ngắn hạn trái phiếu.

Định giá trái phiếu dựa theo mô hình DCF trong hai trường hợp thường gặp:

Định giá trái phiếu trong trường hợp thứ nhất: giả sử một công ty lớn, có tình hình tài chính tương đối là “khỏe mạnh” quyết định vay tiền trên thị trường bằng cách bán ra các giấy nợ ngắn hạn. Những giấy nợ này có mệnh giá 10.000.000 VNĐ, thời gian đáo hạn 6 tháng và công ty bán chúng với giá 9.569.378 VNĐ. (Lưu ý đây là dữ kiện làm sáng tỏ ví dụ để bạn dễ hiểu hơn về DCF)

Chúng ta có thể sử dụng mô hình DCF để tính toán lãi suất bằng công thức:

Trong đó: 

  • PV = Giá trị hiện tại của tích sản tài chính
  • CFt = Dòng lưu kim dự kiến của tích sản tài chính ở kỳ hạn t.
  • n = Số kỳ hạn
  • k = Tỷ lệ chiết khấu

Giải thích: những giấy nợ ngắn hạn được cam kết trả một lần khi đáo hạn và tỷ lệ chiết khấu mà người mua được hưởng được xác định cụ thể:

9.569.378 = 10.000.000 / (1+ k)

⇒ k =—————- (10.000.000 / 9.569.378)  – 1 = 0,045 = 4,5%

Kết luận: Lãi suất năm của giấy nợ này là: 4,5% x 2 = 9%

Định giá trái phiếu trong trường hợp thứ hai: đến lúc sử dụng mô hình DCF để tính tỷ lệ chiết khấu của các trái phiếu không trả lãi. Đây là loại trái phiếu mà các doanh nghiệp phát hành cam kết sẽ hoàn trả một lần khi đáo hạn theo mệnh giá của trái phiếu.

Một công ty lớn phát hành loại trái phiếu không trả lãi, có thời hạn 20 năm, có mệnh giá là 1.800 USD và giá bán là 200 USD. Tỷ lệ chiết khấu của những trái phiếu này là:

200 = 1800 / (1+k)20   .  Từ đó suy ra k = 11,61%/năm.

Bạn cần phải lưu ý rằng, mô hình DCF liên quan đến 4 yếu tố: giá trị hiện tại, dòng lưu kim dự kiến, tỷ lệ chiết khấu và số kỳ hạn. Nếu có bất cứ ba yếu tố nào trong 4 yếu tố này, ta có thể sử dụng mô hình DCF để tìm ra yếu tố thứ tư.

Một mặt khác, nếu doanh nghiệp ước tính tỷ lệ lợi nhuận thị trường yêu cầu là 12%, trong khi đó tỷ lệ thực tế là 11,61% thì doanh nghiệp sẽ bị thiệt vì đưa ra giá bán trái phiếu thấp hơn mức giá người mua sẵn lòng trả – tức là ở mức 186,6 USD/trái phiếu (1.800 USD/1,1220 = 186,6 USD) thay vì giá bán 200 USD.

Định giá trái phiếu trường hợp khi có dòng lưu kim hỗn hợp (trường hợp đặc biệt):

định giá trái phiếu trường hợp đặc biệt

Định giá trái phiếu trong trường hợp này thì hầu hết trái phiếu có lãi (thông thường 2 lần trong năm) thực chất đây chỉ là phần thêm vào giá trị theo mệnh giá của nó. Tỷ lệ lãi suất ghi trên trái phiếu chỉ rõ tỷ lệ phần trăm trả theo mệnh giá. Chẳng hạn, nếu mệnh giá của trái phiếu là 1.000 USD và tỷ lệ lãi suất ghi trên trái phiếu là 9%, thì trái chủ được hứa trả 90 USD tiền lãi mỗi năm cho tới khi đáo hạn bất kể giá thị trường của trái phiếu cao hay thấp hơn mệnh giá.

Công tác định giá lúc này để rõ hơn trong mô hình DCF chỉ có mối quan hệ giữa các dòng lưu kim kỳ vọng, giá trị của trái phiếu (B) và tỷ lệ hoàn vốn cần thiết, ta thấy sự xuất hiện của phần tiền lãi trong công thức tính. Công thức này sẽ được cung cấp gợi mở trong các khoá học đầu tư chứng khoán cho người bắt đầu từ cơ bản đến nâng cao của VNDIRECT. Nếu bạn có nhu cầu và tò mò phát triển các định giá chính xác, hãy liên hệ ngay với công ty này nhé. 

>> Đầu tư trái phiếu là gì? Khái niệm cơ bản về trái phiếu


Định giá trái phiếu ban đầu khá phức tạp, nhưng bạn cần làm quen với nó để có thể tính đúng xác suất đầu tư cho việc mua và bán. Để có thêm nhiều kiến thức mới về lĩnh vực này, hãy nhấn lưu trang và cập nhật thường xuyên nội dung đăng lên hàng tuần nhé.